Hãy Thủy Táng...

Hãy Thủy Táng Tôi
Cùng Con Tàu
 
(Một chút hương lòng với các chiến sĩ Hoàng Sa,
Trường Sa vì nước quên mình)
 
“Hãy thủy táng tôi cùng con tàu”
Lời anh dặn đồng đội trước lúc hy sinh
Là lời thề sinh tử
Trước âm mưu xâm lược của kẻ thù phương bắc
Giữa Trường Sa muôn trùng sóng dữ
Tiếng đạn bom rát mặt rú gào.
 
Đảo Gạc-Ma,Cô-Lin dậy sóng Bạch Đằng
Cây bàng vuông vẫn hiên ngang trước gió
Trong phút chốc đã trở thành tâm bão
Trước mưa bom tàn bạo của quân thù.
 
Nhớ khi xưa
Bao đoàn hùng binh ra đi
Giữ đảo không về
Ngôi mộ gió vẫn ầm ào sóng biển
Anh vẫn ngủ yên trong vùng biển nhớ quê hương
Sóng vẫn vỗ về ru giấc cho anh
Hàng thùy dương cát trắng mênh mông
Vẫn nặng nỗi lòng người lính biển.
 
Đừng vọng tưởng lời “hòa bình, hữu nghị”
Chớ ngây ngô câu “núi liền núi, sông liền sông”
Khi quân xâm lược tuyên bố ngông cuồng
“Mộng Tam Sa” sẽ trở thành hiện thực.
 
Hai mươi lăm năm sau
Lời anh nói đã hòa vào sóng biển
Khắc lên bao vách núi , đảo anh hùng
Một lời thề sắt đá.
 
Lời anh nói khi tôi còn rất trẻ
Nhưng không phút nào quên
Lời anh nói đã trở thành bất tử
Trong trái tim  bao người lính đảo
Quyết gìn giữ biên cương
Tử sinh cùng sông núi.
 
Nguyễn An Bình
8/3/2013

Tiếng Độc Huyền

Tiếng độc huyền rơi từ quá khứ
Xé hồn ta, chảy máu trinh nguyên
Áo hoa mờ ảo trong sương mỏng
Là những ẩn tình ta với em  !
 
Phương Nam ơi, bạt ngàn lúa trổ
Cánh cò chao, trắng muốt tuổi thơ
Và trai, gái vẫn thề non hẹn biển
Phải lòng nhau nên cứ bắt đợi chờ !
 
Tiếng mẹ ru, võng đưa kẽo kẹt
Gió ruộng đồng khuấy động thời gian
Trong im vắng, đừng ai làm tan vỡ
Giữa không gian, trầm bổng một ngón đàn !
 
Chiều Bảy Núi, đất trời như gần lại
Đêm Núi Sam, trăng đẹp quá trăng ơi
Trong sâu thẳm đắng cay và hạnh phúc
Ta ru ta, với thân phận làm người !
 
Đừng nói trăm năm đi không tới
Cuộc đời nầy như giấc ngủ non
Tuổi thơ ơi, nụ cười mới lớn
Người học hoài chưa hết cái khôn !
 
Ta đứng cười vang cùng thế sự
Lở, bồi rồi như một giấc mơ
Để nghe trăn trở bao dòng lệ
Đủ biết tình yêu chẳng bến bờ !
 
Cả một đời ta, vai gánh nặng
Văn chương, thân hữu với tình em
Thiên đường, địa ngục gần nhau lắm
Còn tiếng độc huyền rớt trong đêm !
 
Trúc Thanh Tâm       

Mai Mốt Anh Về

Buổi anh ra đi
anh bảo rằng mai mốt anh về
anh nhớ Sài-Gòn từ giây phút ấy
biết nói sao vì anh đã ra đi
chiều hiu quạnh vầng mặt trời đỏ ối
tựa chiếc ly anh vẫn uống champagne
từ từ chết ở ven bờ biển
ai tiễn đưa, hay là sóng biển, gió cồn ?
ngoài kia heo hút Hòn Rùa, Phú Quốc
anh nhớ đến cuộc đời phong ba gió lốc
của kiếp nhà văn
mai mốt người sẽ tắt
như chiều nay mặt trời đỏ quắc
thêm lần cuối cùng chói sáng thế gian
và trên tay anh đang đọc cuộc đời
như Mozart chết
nấm mồ tàn lụi vào chiều mưa
mà vợ người trở lại không hay
gió mờ hiu hắt
vì sao em biết?
thân người thành đất hồn người còn vang dội
như chiều nay mặt trời sắp tắt
để rồi ngày mai bắt gặp
tỏa sáng cho loài người
anh nhớ đến nguời Van Gogh
chết trên tay còn tô nét bút
Le champs aux blés (1)
mai mốt anh về
anh lại kể cho em nghe
cuộc đời bi đát của người Tản Đà
đến khi chết còn vẳng lại
dư âm buổi sinh thời mật đắng toan bán cả Trời
anh đọc, anh viết một triệu bài thơ
ca tụng Dostoïevski, Gorki
bởi người an ủi anh trong giờ tàn lụi, khổ hạnh
anh còn muốn sống cho trọn vẹn
kiếp làm người sao nỡ khóc than
anh lại cúi đầu
muôn lần sùng bái Chu Thần
xa kinh kỳ
về miền hoang dại, gõ đầu con trẻ
và đọc một bài thơ
“một thầy cô, một chó cái
học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đưòi ươi”
mai mốt anh về
anh kể cho em nghe
buổi chiều nay anh đang nhỏ lệ
khóc người xưa hát lại khúc
“tài tử đa cùng”
Em ơi!
mai mốt anh về em nhé
nói làm sao cho hết
những chiều gần chết
của mặt trời
những chiều tàn lụi của cuộc đời
và làm mới mặt trời.
 
(1) Cánh đồng lúa mì vàng
 
Thế Phong

Buổi Chiều Ở...

Buổi Chiều Ở Fort Chaffee
 
- Tại sao tụi tui cũng bốn đứa mà chỉ được mấy cái đồ rửa mặt và xà bông này thôi? Tại sao nhà ông Thiện được mấy cái hộp gì bự quá vậy? Còn nhà ông Lộc có mấy cái chai gì coi giống đồ hộp ngon lành quá vậy? Tui nói cho mấy ông biết, không phải tụi tui lính tráng mà ngu, để cho mấy ông ỉ làm sĩ quan bè phái với nhau đâu đó. Qua tới đây là không có sĩ quan gì nữa. Mấy ông là trung úy, đại úy hay tướng tá gì cũng hổng ăn thua cái con mẹ gì ráo trọi. Tụi mình bây giờ huề hết trơn rồi, hổng thằng nào hơn thằng nào hết đó. Đừng có ỷ là biết tiếng Anh, nói chuyện được với mấy thằng Mỹ mà ăn hiếp tụi tui à nghe. Bây giờ là chia đều ra hết đi.
 
Binh nhì Tư vừa nói xong, thì ba đứa trong bọn hắn cũng xấn tới, làm mặt dữ dằn như sắp đánh Văn. Trong cái đầu óc giản dị của bọn chúng, mấy thằng cha sĩ quan điều khiển quân đội mà để [.......] mất miền Nam là cà chớn lắm. Bọn sĩ quan phải chịu chung trách nhiệm. Thằng nào cũng có lỗi làm cho bọn lính phải bỏ nhà cửa, gia đình, lạc lõng sang tới đất Mỹ. Thế mà bây giờ lại còn phe đảng chia đồ cho nhau.
 
Mấy cô gái khúc khích cười, mấy bà thì đỏ mặt lên không nói gì. Văn càng lúng túng hơn, nhìn mọi người cầu cứu, nhưng không ai nói gì, sau cùng Văn đành nói:
- Tôi chia theo danh sách của barrack mình thôi. Mấy món đó các bạn đâu có xài được mà giành làm chi.
Thằng Lợi, trong đám bốn người lính độc thân nhào tới, xấn xổ:
- Nè đừng có khinh bọn tui là ngu nghe. Người ta xài được thì tụi tui cũng biết xài chớ bộ.
Trung Úy Thiện ngưng cười:
- Mấy cái chai đó là baby food, đồ ăn của con nít nhỏ, chưa mọc răng. Ông mà nuốt một muỗng là nó nhợn lên tới cổ, ngon lành gì mà giành. Cái đó có phải là đồ hộp làm cho người lớn bọn mình đâu. Ông muốn thử tôi nhường cho ông một chai của con tôi.
Tư mắc cở, nhưng chưa vừa lòng:
- Vậy chứ mấy cái hộp kia là gì? Đâu phải đồ ăn con nít đâu. Mà mấy gia đình này đâu có con nít. Mấy đứa con gái lớn xộ rồi.
Đám đàn bà cười rộ lên. Tư càng nóng:
- Im lặng coi, mấy bà làm cái gì vậy. Chia đồ lẹ lên cho người ta còn lên Quân Tiếp Vụ uống cà phê chớ.
Thấy không làm sao được, Văn đành thủng thỉnh nói như năn nỉ, mắt nhìn xuống sàn:
- Mấy hộp đó là băng vệ sinh của phụ nữ. Nhóm mấy ông bốn người đàn ông độc thân thì người ta phát cái đó làm chi.
Cả đám mấy chục người té ra cười, rồi quay lại chọc Văn:
- Sao không xé hộp ra, phát cho mỗi đứa một cái cho nó quàng lên cổ chơi có phải vui không!
Văn lầm lì nói:
- Làm trưởng barrack khổ thấy mẹ, tôi không làm nữa. Mấy ông bà bầu người khác đi. Tôi đi theo tụi nó lên Quân Tiếp Vụ uống cà phê.
“Quân Tiếp Vụ” thật ra là một cái xe truck của Salvation Army, ngày ngày đậu dưới bóng cây gần trạm quân cảnh. Ai tới thì được phát một ly cà phê nhỏ và một cái cookie. Hôm mới tới, thằng Hoàng hỏi thằng Tư tại sao chỗ này lại phát cà phê cho mình uống cả ngày. Tư không biết gì hơn, nhưng vẫn giải thích.
- Mày nhớ mấy thằng lính Mỹ hồi đó có chữ Army trên áo không? Army nghĩa là lính. Vậy đây là “quân tiếp vụ”. Tụi mày không thấy mình đang ở trong trại lính Mỹ sao? Bộ mày không nhớ hồi đó ở Việt nam, lính Mỹ tới đâu thì cũng có xe với trực thăng chở đồ ăn uống tới liền một bên đó sao.
Từ đó bọn thằng Tư gọi cái xe Salvation Army là Quân Tiếp Vụ, Không ai thèm cải chánh, nhưng cũng may, cái tên ấy không trở nên phổ biến, người khác chỉ gọi đó là xe cà phê mà thôi.
Văn đi sang barrack bên cạnh, rủ Thanh đi uống cà phê. Tới nơi, Thanh đang ngồi trên giường hý hoáy chép lại cuốn tự điển Anh Việt-Việt Anh của Lê Bá Kông và Lê Bá Khanh. Anh mang được cuốn Văn Phạm Anh Ngữ Thực Hành, nên đổi với người bạn, mỗi người được mượn sách của người kia để chép lại. Mai này cả hai gia đình đều cùng có cả sách văn phạm và tự điển. Ở nước Mỹ này làm gì có sách tiếng Việt mà mua. Không có sách thì làm sao học tiếng Anh bây giờ.
Hôm trước ông Lê Bá Kông treo bảng hỏi xem có ai mang được sách của ông theo thì cho mượn để ông in lại bán cho ngườ Việt dùng. Văn xúi ông Hậu - chủ quyển tự điển - đưa cho ông Kông mượn (Chàng cũng tính sẽ là khách hàng đầu tiên của bộ tự điển ấy) nhưng ông Hậu trợn mắt:
- Thôi đi cha! Dừng thấy tôi già, tưởng ngớ ngẩn mà xúi dại! Cái nước Mỹ mênh mông rộng lớn này, mỗi người đi một nơi, rủi lạc mất thì biết đâu mà đòi! Đời sống mới của cả gia đình tôi chỉ trông vào có cuốn sách ấy để học mà đi làm việc. Mật tự điển, không học được tiếng Anh thì chết đói cả đám. Tôi không có cho ai mượn hết. Thằng nào anh hùng, muốn giúp đồng bào thì cứ tự động. Tôi chỉ ráng lo cho gia đình tôi thôi.
Thế là Văn tịt ngòi. Nghĩ đến chuyện chép tay bộ tự điển như Thanh mà ớn. Nhưng biết làm sao hơn. Chàng chỉ mong có người cho ông Kông mượn sách, in lại, để mua mà xài, cho chắc ăn cái chuyện kiếm cơm. Mang tiếng là giỏi tiếng Anh, nhưng thật ra vốn liếng chàng đâu có bao nhiêu. Chẳng qua là hồi sang Mỹ học bay thì có chút tiếng Anh tàm tạm do quân đội dậy. Trong quân đội nói tiếng Anh với Mỹ thì còn khá dễ, chứ ra ngoài đời thì thấy mẹ rồi. Mới nói có một lát mà đã mỏi rừ cả hai cánh tay.
Thanh bỏ bút, cất sách giấy cẩn thận rồi dặn vợ trông chừng cho kỹ, kẻo thằng nào nhám tay chớp mất quyển sách của ông Hậu thì thấy mẹ. Hai người thơ thẩn đi sâu vào giữa trại, đến cạnh một cây sồi to lớn, xum xuê, chỗ xe cà phê của Salvation Army trụ trì, xếp hành lãnh cà phê và bánh ngọt. Văn ngó người đàn bà Mỹ, trạc tứ tuần, dáng điệu nhanh nhẹn, lúc nào cũng sẵn sàng nhoẻn cười với đám di tản ngơ ngơ ngác ngác. Chàng vẫn không hết thắc mắc về cái lối hành xử của người Mỹ. Cà phê thì dùng cái ly giấy nhỏ xíu, chưa uống đã hết, đến cái cookie cũng bé teo. Ăn uống vừa hết, xếp hàng xin nữa, thì cho ngay. Vậy mà xin luôn một lần hai ly để uống cho đủ, thì nhất định không, chỉ cho mỗi lần một ly. Đằng nào cũng cho, thì cho luôn một lần cho rồi, còn bắt đứng lên, đứng xuống. Người Mỹ khờ khạo thế này thì làm gì chẳng bị [....] xí gạt ở Paris.
Ngồi trên bãi cỏ uống cà phê, ngó mông lung, Thanh xúi Văn:
- Mày ra hỏi cái thằng Mỹ cắt cỏ kia, nó làm ăn lương lậu ra sao, mà ngó coi được quá. Tụi mình mà xin được cái việc đó thì khỏi phải nói tiếng Anh với ai cho mệt.
Văn cự nự không chịu đi, nhưng Thanh xúi quá, cũng đành liều, cười cười với anh Mỹ cắt cỏ. Anh mặt mày non choẹt, này lái một cái xe cắt cỏ chạy vòng vòng. Chạy đến đâu, cỏ bị cắt đến đấy. Bãi có được cắt đều, trông thật mát mắt, mà ngoài việc lái xe chạy vòng vòng, anh ta chẳng phải làm gì cả. Lạ! Làm việc mà cứ như giỡn chơi! Xứ Mỹ này sướng quá cỡ.
Văn hớn hở, chạy về gốc cây sồi bảo Thanh:
- Thằng này còn đang đi học, nó chỉ làm bán thời gian để kiếm thêm tiền tiêu. Mỗi ngày làm 4 tiếng, mỗi tuần 20 tiếng, được trả 2 đô la mỗi giờ.
Thanh nhẩy nhổm lên:
- Hai đô la một giờ! Mẹ kiếp, tao tưởng nhiều lắm là độ mươi xu! Mày thấy không! Phải ráng tìm cho được một việc như thế. Hay là tao ở lại đây luôn cho rồi. Hai đô la một giờ, vậy là thằng này kiếm được 40 đô la một tuần, 160 đô la một tháng. Tính ra là 160 ngàn đồng Việt Nam. Cả nhà tao ăn sang như vua chắc cũng chỉ hết độ 60 ngàn, còn 100 ngàn mình để dành mua xe hơi chạy. Đâu có gì mà phải lo nữa. Mày ráng hỏi nó xem làm sao tao xin được cái việc ấy cho sướng.
Rồi chàng tặc lưỡi, tiếc rẻ:
- Hôm ỡ trại ASAN, đảo Guam, có đứa vào tìm người, tao đã xin làm mà nó không nhận, vì mình có gia đình mà nó lại chỉ lấy người độc thân, việc cũng nhàn hạ mà lương lại đến hai trăm đô la một tháng.
- Công việc gì mà lại phải độc thân?
- À! Có hai vợ chồng già, đã về hưu, muốn tìm một người đàn ông trẻ tuổi để giúp họ. Có phòng riêng, ăn ở bao hết, mỗi ngày chỉ phải sử dụng máy hút bụi, máy giặt, máy xấy quần áo vớ vẩn thôi… Mày thấy không, xứ văn minh, cái gì cũng máy móc, mình chỉ việc bấm nút cho máy chạy thôi, khỏe rề. Lại có hai trăm bỏ túi. Một lạng vàng bây giờ là 125 đô la, lương tao từ xưa đến giớ có bao giờ được lấy nửa lạng một tháng đâu.
 
Trời cuối mùa xuân ở Arkansa xanh biếc. Đã hết lạnh mà chưa nóng. Ngày dài, thời tiết dễ chịu, tươi đẹp vô cùng. Trại Fort Chaffee ở gần thành phố Fort Smith, một thành phố nhỏ, ở một tiểu bang nhỏ, quê mùa. Dân tỵ nạn lại chẳng được ra phố, không ai biết đời sống Mỹ thật sự như thế nào. Không ai biết mùa đông, mùa hè như thế nào. Họ bận rộn với nhau trong cái thế giới nhỏ bé, riêng tư của vài mươi ngàn người Việt, trong một trại lính cũ, biệt lập với mọi nơi, mọi việc bình thường. Công việc hàng ngày chỉ là xem ai đến, ai đi, giấy tờ thì chỉ độ hai ba buổi đã xong, họ chỉ còn bận rộn xếp hàng ăn sáng, xếp hàng ăn trưa, xếp hàng ăn tối. Mấy đứa trẻ rất thích sống ở đây, vì không phải đi học, tha hồ đi chơi lêu lổng, không bị mẹ gọi về ăn cơm. Lúc nào đói, chúng chỉ việc xếp hàng trước một nhà ăn, lãnh phần mình rồi ăn uống ngon lành. Thỉnh thoảng để giải trí cho đám người tỵ nạn, dân địa phương tổ chức ăn mặc theo kiểu chăn bò ngày xưa cưỡi ngựa đi vòng vòng theo con đường chính xuyên qua giữa trại. Trẻ con lúc đầu xôn xao ra xem. Sau thấy không có bắn súng hay quăng giây lát-xô gì cả, chúng đâm chán bỏ đi gần hết. Đã vậy mấy con ngựa lại còn phẹt ra những đám phân lớn xuống đường, thối um lên. Đám cowboy thấy dân tỵ nạn khờ quá, không biết thưởng thức, nên cũng đâm chán, lững thững cưõi ngựa vòng về. Một cụ già bình phẩm:
- Vẫn còn cưỡi ngựa! Mình cứ tưởng Mỹ văn minh lắm, ai cũng đi ô-tô chứ!
Năm giờ chiều mà mặt trời còn cao như mới hai ba giờ. Trước nhà ăn, người ta đã xắp hàng dài. Người đàn bà Mỹ đã bắt đầu đóng cửa xe cà phê Salvation Army. Theo Thanh đứng dậy, Văn cằn nhằn:
- Chắc lại cho ăn cá nữa! Mấy thằng Mỹ này, cứ bắt mình ăn cá hoài, ớn thấy mẹ. Hồi xưa qua đây học bay đâu có vậy!
Xếp hàng tiến vào nhà ăn, mỗi người lấy một cái khay nhựa, muỗng nĩa và giấy ăn. Đúng vậy, bữa nay lại ăn cá. Mỗi khay được một miếng cá luộc, trắng nhách, to bằng bàn tay, một vá cơm và một nửa qủa táo. Lúc đầu, dân Việt vác khay cơm chạy ra bãi cỏ ngồi ăn. Người Mỹ không chịu được cái chuyện mất trật tự như vậy, bắt họ phải ngồi ở bàn ghếtrong nhà ăn, coi cho đàng hoàng. Riết rồi cũng đâm quen, chỉ có vụ ăn cá là ai cũng ớn. Người Mỹ phụ trách nhà ăn cũng điên đầu vì mấy chai soy sauce. Biết dân Việt ăn nước mắm, nhưng kiếm không ra nguồn cung cấp, họ thế bằng soy sauce. Mỗi bàn để một chai. Được độ dăm phút những chai soy sauce biến mất, tìm không ra, hỏi không ai biết. Lại bầy ra chai khác, lại biến chớp nhoáng. Người ăn sau phải ăn với muối. Thì ra người ta thủ các chai này trong túi để dành ăn riêng cho chắc. Không thủ riêng, rủi ăn cá mà không có xì dầu thì ai chịu nổi. Về sau tụi Mỹ cũng đâm khôn, lúc mỗi gia đình đã thủ được một chai thì mọi chuyện cũng ổn thỏa, chai của nhà ai, nhà nấy ăn, khỏi phải lo chuyện xì dầu nữa.
Tối hôm ấy, trong trại chiếu phim Mãnh Long Quá Giang của Lý Tiểu Long, nói tiếng Tầu, phụ đề Anh Ngữ. Nhưng phim ở đây đâu có phụ đề Việt Ngữ như ở Saigon đâu, mà dân tỵ nạn cũng ngồi chật bãi cỏ. Gia đình Văn kiếm được một chỗ tốt ngồi xem. Trước khi chiếu phim, tối nay còn có ông Giám Đốc Chương Trình Tỵ Nan Liên Bang đến thăm và nói chuyện với đồng bào. Người thông dịch là một thanh niên trẻ tuổi, qua đây du học từ trước và bây giờ đang làm việc cho chính phủ Mỹ. Anh nói tiếng Anh lưu loát, hệt như người Mỹ. Ông giám đốc này có cái tên xa lạ với lỗ tai người Việt thời đó: Donald McDonald. Ông nói về những chuyện không mấy hai hiểu để mà lưu tâm: Việc rời trại đi định cư, nghề nghiệp, sinh sống, người bảo trợ, sức khoẻ, các chương trình trợ giúp của chính phủ… Người ta cứ tưởng đời sống ở xã hội Mỹ cũng giống như đời sống ở Fort Chaffee, cái gì cũng có người lo cho hết, mình chỉ việc chờ đợi. Mới đến đảo Guam thì chờ đi từ trại Orote Point qua trại Asan, rồi chờ qua trại Anderson, chờ vào lục địa, rồi tới đây vẫn như thế, hàng ngày chờ ăn trưa, chờ ăn tối, chờ uống cà phê, chờ lĩnh quần áo, chờ làm giấy tờ, chờ giờ xem xi-nê, rồi chờ đợi cái gì nữa, sau khi đã mất [tất cả rồi ] thì không ai rõ…
Đến ngồi gần gia đình Thanh là hai nhóm gia đình với những đứa trẻ mặc quần áo giống nhau, thứ áo may bằng tay với vải cắt ra từ khăn trải giường của trại. Người Việt Nam lanh lợi thật, không có quần áo cho con mặc, thì cứ lột quách khăn trải giường của Mỹ ra, may áo cho chúng mặc. Mẹ chúng, hai người đàn bà tuổi ba mươi nói chuyện và quát tháo con cái không ngừng. Họ xầm xì chê anh thông dịch. Cứ mỗi lần anh này nói: ‘Kính thưa quý vị, ông 'Đa-nôn Mịch-đa-nôn nói rằng…’ thì hai bà này lại nhẩy cỡn lên: ‘Tên ông ấy là 'Đô-nan Mạch-đa-nôn' chứ không phải là 'Đa-nôn Mịch-đa-nôn'. Cuối cùng thì ông 'Đa-nôn' hay ông 'Đô-nan' cũng nói xong và rất ngạc nhiên vì không ai hỏi ông gì cả. Rồi sau vài phim hoạt họa cho trẻ con, Lý Tiểu Long xuất hiện trong tiếng vỗ tay rầm rộ của bà con. Không biết ông 'Đa-nôn' có còn ở lại và nghe thấy gì không?
Văn ngước nhìn lên trời. Đêm trong vắt, trời lấm tấm sao, chàng thấy chòm sao Orion nổi bật trên nền trời đen thẫm. Kìa thanh kiếm của chàng hiệp sĩ, mũi kiếm chỉ về phương Nam và kia là phương Tây, nơi có mảnh đất quê hương chàng đã phải rời bỏ.
 
Bùi Ngọc Tuấn

 

Nữ Vương Phật Nguyệt

Truyện tích "Nữ Vương Phật Nguyệt" là huyền sử nữ chúa hồ Ðộng Ðình thuộc tỉnh Hồ Nam ở Trung Hoa, lại xảy ra vào thời Hai Bà Trưng là khi thời đại Hồng Bàng đã chấm dứt, nhưng cũng viết thành một chương trong sách này, vì các lẽ:
Thời đại Hai Bà Trưng là thời đại vận động phất cờ khởi nghĩa quy mô lớn, không cách thời Hồng Bàng quá lâu và Hai Bà dựng nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt, có lãnh thổ quốc gia rộng tương đương với lãnh thổ thời nước Văn Lang lúc cường thịnh.
Thời đại Hai Bà Trưng là thời đại có tổ chức hệ thống chính trị và nề nếp đời sống nhân dân giống với thời đại Hồng Bàng nhất, so với các thời về sau.
Triết lý, tư tưởng nhân sinh cùng ý thức hệ vũ trụ của truyện tích "Nữ Vương Phật Nguyệt" có những nét đặc trưng và tự hào riêng có ở dân tộc Việt, khi chưa bị ảnh hưởng các tư tưởng Phật, Lão, Khổng.
Trước khi viết về "Nữ Vương Phật Nguyệt", xin được viết sơ lược về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng:
Hai Bà phất cờ khởi nghĩa điểm khởi đầu ở Cổ Lôi trang (nay là làng Hạ Lôi gần chân núi Ba Vì, có lúc giòng chảy của sông Nhị Hà vào mùa nước lũ chuyển giòng, đã chia làng, chia dân chạy nước lụt, thành hai làng Hạ Lôi ở cả về hai bên bờ sông, vì vậy nay ở hai tỉnh Vĩnh Yên và Sơn Tây tại mỗi tỉnh đều có làng Hạ Lôi), sau tập trung nhiều lực lượng tại làng Hát Môn cho tiện điều hành cả quân thủy lẫn quân bộ, rồi mới nhanh chóng tiến đánh Luy Lâu, thủ phủ cai trị của giặc Hán.
Do có sự liên kết, chuẩn bị bí mật nên địa bàn khởi nghĩa lan rộng ngay từ những ngày đầu. Tất cả có chín quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Uất Lâm (tức Quế Lâm), Thương Ngô, Nam Hải, Hợp Phố, Châu Nhai và Ðạm Nhĩ, tổng cộng có 65 huyện thành. Giao Chỉ là một trong số những quận lớn, lại cũng là quận đứng đầu cuộc khởi nghĩa có những huyện thành là: Mê Linh, Chu Diên, Long Biên, Liên Thụ, An Ðịnh, Cẩu Lâu, Khúc Dương, Bắc Ðới, Kê Từ, Tây Vu. Trong số 10 huyện này căn cứ khởi nghĩa quan trọng là hai huyện Mê Linh và Chu Diên, coi núi Ba Vì cùng với sông Hồng làm điểm tựa và là nơi xuất phát những mũi tấn công chính. Nhìn vào bản đồ miền Hoa Nam và đất nước Việt ngày nay, đích thực lãnh thổ cùng cư dân khởi nghĩa nổi lên trong hệ thống đất nước Hai Bà làm vua, có cương giới rộng gần ngang tầm với nước Văn Lang mà "Ðại Việt sử ký toàn thư" đã viết: "Khi Hùng Vương lên ngôi, dựng nước gọi là nước Văn Lang. Nước ấy phía đông giáp biển Nam; phía tây tới Ba Thục; phía bắc đến hồ Ðộng Ðình, phía nam tiếp với nước Hồ Tôn".
Lực lượng khởi nghĩa theo Hai Bà khiến hàng loạt các tên thái thú quan lại cai trị 9 quận của Hán triều: kẻ bị giết, kẻ chạy trốn, kẻ đầu hàng, thậm chí có kẻ khiếp sợ phải cải trang làm đàn bà chạy trốn như tên thái thú Tô Ðịnh coi quận Giao Chỉ. Oanh liệt hơn nữa là không phải chỉ có hơn hai vạn quân Hán sang trấn áp cuộc khởi nghĩa do Hai Bà lãnh đạo như sử Hán viết, thực sự có thể có hàng chục vạn quân Hán bị thảm bại trước sức mạnh quật cường của quân dân người Việt. Chứng cớ đích xác và đúng sự thực thì tới năm 49 sau công nguyên, sau khi tìm cách rút quân khỏi Giao Chỉ, tên giặc Mã Viện cùng với đám tàn quân còn sót lại cũng bị quân dân khởi nghĩa theo Hai Bà tại miền đất Ngũ Khê (Vũ Lăng) vây hãm, bị chết trận, chết vì bệnh đậu mùa, kể cả tên tướng Mã Viện cũng không thoát khỏi tử thần.
Dù đã trải qua khoảng hai nghìn năm, nhiều lúc có sự cấm đoán cũng không ngăn được các cư dân người Hoa gốc Việt sống ở các nơi thời xưa là lãnh thổ Hai Bà cai quản, nay không còn thuộc đất nước Việt, vẫn tưởng nhớ công ơn Hai Bà và các tướng sĩ của Hai Bà. Tại các tỉnh: Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Ðông, Hồ Nam không nhiều thì ít, nơi nào cũng có đền miếu thờ "đạo Hai Bà", hoặc thờ các tướng lĩnh của Hai Bà, con số có thể lên hàng nhiều trăm nơi thờ. Sự tôn thờ tưởng nhớ của dân chúng được nâng lên như một tín ngưỡng tôn giáo gọi là "đạo Vua Bà". Nếu muốn tìm hiểu thêm tâm tư người dân và hỏi họ: -Tại sao lại thờ "đạo Vua Bà" và Vua Bà là ai? Sẽ được những người am hiểu cho biết: - Thờ "đạo Vua Bà" là đạo của Trưng Vương người quận Giao Chỉ dấy quân chống bọn tham quan áp bức dân.
Theo lời người dân sống phía nam sông Dương Tử kể lại, từ trước năm 1949 nhiều nơi trong dân gian có tổ chức các nghi lễ "lên đồng" cũng giống như ở nhiều nơi tại Việt Nam thường tổ chức nghi thức lễ "lên đồng", nhất là đối với giới phụ nữ. Lễ tục này đã có từ rất lâu đời tại các vùng cư dân có các chủng tộc người Việt sinh sống. Qua các truyện tích như: thánh Gióng, Kim Qui, đều thấy thuật lại việc các vị vua lập đàn làm lễ cầu trời, rồi thấy ứng hiện lên một người có cử chỉ, lời nói giống như một vị thần nhân, nói ra những điều linh ứng, tương tự như sự linh ứng trong nghi lễ "lên đồng". Nếu những người dân miền Hoa Nam đã tôn trọng lễ "lên đồng" là đạo, tức là một thứ tôn giáo, thì tôn giáo ấy chắc hẳn đã có từ lâu đời, từ thời thượng cổ.
Trong một cuộc nghiên cứu, sưu tầm, phái đoàn thuộc Viện Pháp Á (tức Institut Franco Asiatique, sách này đã dẫn chung tài liệu tại chương 5. Ðất nước Tổ Hùng) vào hai năm 1978, 1979, họ đã tham quan hàng trăm nơi tại các tỉnh lưu vực phía nam sông Dương Tử (Trường Giang) có thờ Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh của Hai Bà. Ðích thân vị Giám đốc Sự vụ Trung Hoa của Viện Pháp Á đã đọc được tại Thư viện bảo tàng di tích cổ của tỉnh Hồ Nam một bản tài liệu cổ được viết vào thế kỷ thứ tám, nói về "Sự tích Nữ Vương Phật Nguyệt" như sau:
"Ngày xưa Ngọc Hoàng Thượng Ðế ngự trên điện Linh Tiêu, có hai công chúa đứng hầu. Vì sơ ý hai công chúa đánh vỡ chén ngọc, Ngọc Hoàng Thượng Ðế nổi giận đày hai công chúa xuống hạ giới. Hai công chúa đi đầu thai được mấy ngày thì vị tiên lại giữ sổ trên thiên giới tâu rằng: có 162 vị tiên cũng đầu thai xuống hạ giới theo hai công chúa. Ngọc Hoàng Thượng Ðế thấy thế sợ hai công chúa làm loạn ở hạ giới, ngài mới truyền Thanh Y đồng tử đầu thai theo để dẹp loạn. Thanh Y đồng tử sợ địch không lại hai công chúa, có ý ngần ngừ không dám đi. Ngọc Hoàng Thượng Ðế truyền nhị thập bát tú đầu thai theo. Thanh Y đồng Tử sau là vua Quang Vũ nhà Hán. Nhị thập bát tú đầu thai thành hai mươi tám vị văn thần võ tướng đời Ðông Hán. Còn hai công chúa đầu thai xuống quận Giao Chỉ, vào nhà họ Trưng, chị là Trắc, em là Nhị. Lúc Trưng Trắc sinh ra có hương thơm đầy nhà, từ nhỏ đã thông minh quán chúng, sau lớn có sức mạnh bạt sơn cử đỉnh, được gả cho Ðặng Thi Sách. Thi Sách làm phản, bị thái thú Tô Ðịnh giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, được 162 anh hùng, liệt nữ các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng chiếm hết sáu quận của Trung Quốc ở phía nam sông Trường Giang là các quận: Cửu Chân, Nhật Nam, Giao Chỉ, Quế Lâm, Thương Ngô, Nam Hải (tiếp theo sau còn có thêm ba quận khởi nghĩa là Hợp Phố, Châu Nhai và Ðạm Nhĩ). Chư tướng tôn Trưng Trắc lên làm vua, thường gọi là Vua Bà.
Quang Vũ nhà Hán sai Phục Ba tướng quân Tân tức hầu Mã Viện và Long Nhương tướng quân Thân hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt Tổng Trấn hồ Ðộng Ðình đánh chặn, Mã Viện và Lưu Long bị đánh bại. Vua Quang Vũ truyền lệnh cho nhị thập bát tú tới nghênh chiến, tất cả cũng bị đánh bại. Nữ Vương Phật Nguyệt phép thuật tài giỏi vô cùng, một tay nhổ núi Nga Mi, một tay nhổ núi Thái Sơn, đánh quân Hán chết xác lấp sông Trường Giang và hồ Ðộng Ðình, oán khí bốc lên tới trời. Ngọc Hoàng Thượng Ðế sai Thiên binh, Thiên tướng xuống trợ chiến cũng bị Nữ Vương Phật Nguyệt đánh bại. Ngọc Hoàng phải sai thần Du Liệt sang Tây Phương cầu cứu Phật Như Lai. Ðức Phật sai mười tám vị Kim Cương ba nghìn La Hán tới trợ chiến cũng bị bại trận. Cuối cùng Phật truyền Quán Thế Âm Bồ Tát tham chiến, Nữ Vương Phật Nguyệt với Quan Âm Bồ Tát đấu phép ba ngày, ba đêm, bất phân thắng bại. Sau Quán Thế Âm thuyết pháp mới khiến Nữ Vương Phật Nguyệt giác ngộ, bà bỏ đi tu."
 
Cảnh tế thần linh tại một ngôi đền thuộc tỉnh
biên giới Lạng Sơn, nơi tiếp giáp lãnh thổ với nước Tàu
Ðối với bọn giặc Tần rồi giặc Hán, trước cũng như sau, việc chia cắt nước Việt thành quận, huyện, chẳng những tiện cho chúng về việc phân cấp hệ hành chính cai trị, còn chia cắt sức mạnh đoàn kết dân trong nước từ một khối thành những vùng nhỏ. Vì vậy đối với các quận để bảo tồn sức mạnh, người dân Việt coi nhau dù là ngưòi Nam Hải, Giao Chỉ hay Thương Ngô v..v. đã là người trong chín quận phải coi nhau là người chung một nước. Còn đối với các huyện người Việt thường bảo nhau tự lập người cầm đầu huyện là người Việt, vẫn gọi các chức huyện lệnh là các "lạc tướng" là chức hiệu có từ thời Hồng Bàng. Dân ngấm ngầm tìm cách không đóng thuế hay trốn vào rừng núi ở, nếu là các viên huyện lệnh do Tần hay Hán cắt cử. Vì vậy cai quản huyện Mê Linh là vị "lạc tướng" cha của Hai Bà Trưng và cai quản huyện Chu Diên là "lạc tướng" Ðặng Thi Sách. Trước khi khởi nghĩa cũng như khi cầm quân chống giặc Hán, thấy trong truyện tích các nơi ứng nghĩa, có nhiều nơi nói về công tác vận dụng của bà Trưng Nhị, tạo nên sức mạnh lòng dân Việt đoàn kết thương xót nhau thể hiện qua câu ca dao:
            "Bầu ơi thương lấy bí cùng!
             Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn".
Ðặc biệt nhất là đối với giới phụ nữ, khi được biết Hai Bà đang ngấm ngầm tuyên truyền, giao kết, huấn luyện, tổ chức việc khởi nghĩa, tưởng như mỗi người phụ nữ Việt đều muốn mau chóng hóa thân thành các nữ thiên thần, quyết chí diệt giặc giải phóng đất nước, giải phóng phụ nữ.
             Cử mục sơn hà vô Hán tướng;
             Thệ tâm thiên địa hữu Trưng Vương.
Ðó là đôi câu đối nói lên ý nghĩa các anh hùng liệt nữ cùng toàn dân Việt nhiệt tâm, tận lực hướng về cuộc khởi nghĩa: cho dù hệ thống cai trị của bọn tướng giặc dày đặc khắp nơi, ai ai mở mắt trông khắp núi sông cũng coi như không có bọn tướng giặc Hán; trong tâm can mọi người nguyện một lòng thề với trời đất chỉ biết có Trưng Vương.
Với ý chí yêu nước thương nòi đã được kết tụ, ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất, của thiên niên kỷ thứ nhất theo công nguyên, những công dân Việt đáng tự hào, đáng vinh danh cả nữ lẫn nam chung sức một lòng quét sạch họa cường bạo xâm lăng mạo danh "con trời" chiếm cứ nước Việt. Họ thiết lập được một chế độ độc lập, có tính dân chủ, tự trị và phân quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp (dưới sự chỉ đạo: lập pháp do bà Trưng Trắc, hành pháp do bà Trưng Nhị, tư pháp do bà Xuân Nương) được gọi là chế độ "Hai Vua", ấy là một chế độ văn minh thời cổ, cả hàng nghìn năm cảnh lê dân chìm đắm trong bóng tối chủ nghĩa phong kiến, chưa thể có được!
Toàn dân Việt sống dưới chế độ "Vua Bà" mà lại có những hai vua, không cần biết tới những tên "thiên tử" bịp bợm, chuyên chế độc tài, thường là hôn quân vô nhân tàn ác, dù là kẻ nào, dù cai trị một nước lớn nào chăng nữa! Dân Việt nhìn thấy bọn thái thú, thứ sử cùng bầy đàn quân lính giặc Hán trốn chạy trong khởi nghĩa như loài chuột nhắt và những tên còn lại bị thương tích, bị ốm đau, đã đầu hàng đang sống chui rúc như bầy chó đói. Chúng đang ngước trông sự rộng lượng bao la cùng những tấm lòng thương người của người dân Việt tha tội và cứu sống chúng. Chế độ của các tộc Việt có cơ sở dân chủ "thôn làng tự trị" do các trưởng làng, già làng cai quản, trên có các lạc tướng, hùng tướng chăm sóc, trên nữa có các lạc hầu, hùng hầu giúp Hai Vua trông coi các việc chính trị, quân bị, đúng như bốn câu thơ đời sau truyền tụng, ca ngợi về thời Hai Bà Trưng:
"Một xin rửa sạch nước thù;
Hai xin lập lại nước xưa họ Hùng;
Ba kẻo oan ức lòng chồng;
Bốn xin vẻn vẹn thửa công lênh này".
Có cuộc khởi nghĩa sáng rực hào quang, các dân tộc Việt lại được âu ca đoàn kết, sống trong thanh bình với hệ thống tương giao kết nghĩa "ấn đồng thao xanh", có từ thuở khởi nghiệp thời đại Hồng Bàng. Hậu thế đã hai nghìn năm dài với hàng chục lần các thời bị ngoại xâm đe dọa: Hán, Ngụy, Tấn, Tề, Lương, cho tới Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Tuy thế vẫn vĩ đại oai hùng cùng công đức sự nghiệp Hai Bà, trong tâm hồn dân Việt, vẫn mỗi ngày hào quang một rạng rỡ hơn thêm.
Ngay trên cả những miền đất ở thời cổ xưa cũng như ở thời Hai Bà vốn là dân, là đất thuộc lãnh thổ nước Việt cổ, dù nay không còn thuộc nước Việt, tại các nơi ấy tồn tại nâng cao sự nghiệp Hai Bà như một tín ngưỡng tôn giáo bất diệt bằng ba tiếng tôn danh: "Ðạo Vua Bà".
Phân tích lược qua giá trị triết học của sự tích Nữ Vương Phật Nguyệt còn lưu giữ tại tỉnh Hồ Nam đã thấy ý chí, sức mạnh, lý tưởng của giống nòi Việt không dễ gì một chủ nghĩa hay lý tưởng ngoại dị có thể khuất phục. Vì ngoài sức mạnh trường tồn của dân tộc thì lý tưởng từ nghìn xưa của dân Việt đã đầy đủ chân lý, giá trị nhân sinh, chứa đựng lòng nhân nghĩa, bác ái. Vì người dân phải sống trong khoảng không gian chứa tư tưởng "thiên tử" bịp bợm, trăm nghìn khuôn phép vô nghĩa lý áp đặt, nên mở đầu truyện tích cũng đã viết: "Ngọc Hoàng Thượng Ðế ngự trên điện Linh Tiêu, có hai công chúa đứng hầu...". Rồi đến bố cục sự tích Nữ Vương cũng phải giống như các sự tích thần phả của các cây bút "nòi" chủ nghĩa phong kiến "con trời" hoang tưởng.
Nhưng đến cái lý cuối cùng, cứu cánh của sự tích, thuyết "thiên tử" hoàn toàn bị hất bỏ. Nữ Vương Phật Nguyệt chỉ là một vị tướng của "Vua Bà", nhưng lại đánh bại bọn Mã Viện đệ nhất danh tướng lịch sử các vương triều phong kiến nhanh như phủi bụi. Rồi tất cả đám nhị thập bát tú là các tướng lưu danh thiên cổ của Hán cũng bị đại bại. Như thế toàn bộ tướng mạnh binh hùng của Hán Quang Vũ bị bại rồi còn gì nữa. Dường như pháp thuật của Nữ Vương Phật Nguyệt kể khắp từ trên trời cao cho xuống dưới toàn cõi thế ai cũng phải thua bà, vì một tay bà cầm núi Thái Sơn, một tay bà cầm núi Nga Mi nhổ lên như nhổ cỏ, tất nhiên khi bà ra tay thì xác giặc Hán chết phải lấp đầy cả hồ Ðộng Ðình và sông Trường Giang. Hàng vạn xác giặc Hán bị chết ấy oán khí bốc lên tận trời cao. Liệu trời cao có minh xét được rằng tội ác là do chính tên vua và triều đình Hán bắt lương dân vào lính đi cướp nước người? Nhưng không! Ngọc Hoàng Thượng Ðế lại sai Thiên binh, Thiên tướng từ trên trời xuống trợ chiến giúp bọn giặc xâm lăng. Nên Nữ Vương Phật Nguyệt cũng chẳng nề hà gì mà không đánh cho bọn Thiên binh, Thiên tướng sứt đầu mẻ tai tìm đường chạy trốn. Có lẽ vì ngồi ở trên cao quá, mà bầu trời mênh mông vô hạn, ông Ngọc Hoàng Thượng Ðế (do mấy ông nhà văn Tàu nặn ra) quên không nhìn thấy lương tâm cùng chân lý loài người đặt ở chỗ nào mà điều chỉnh, nên ông ấy không thấy cái sai của Hán Quang Vũ, ông ta lại sai thần Du Liệt sang Tây Phương cầu cứu Phật Như Lai. Thật khó hiểu và nên đoán là vì nể tình "trời, phật" giao hảo từ lâu, nên Phật đã truyền lệnh cho mười tám vị Kim Cương cùng ba nghìn La Hán xuống trợ chiến giúp bọn giặc Hán. Không có lẽ gì cả trời, cả đất, cả phương Ðông, cả phương Tây đều mù mịt u ám không loé ra được ánh sáng chân lý hay sao? Vì vậy nên Nữ Vương Phật Nguyệt cứ đánh tan tác mười tám vị Kim Cương cùng ba nghìn La Hán thua chạy, người thì bay lên trời, người chui xuống đất, lặn hướng Ðông, biến hướng Tây không còn ai, để cho cả trời và đất không thể mù mịt mãi, phải hiện ra ánh sáng chân lý bình minh hợp với ý nguyện toàn thể loài người. Nữ Vương Phật Nguyệt ngoài tước hiệu Nữ Vương bà còn có phật hiệu là Phật Nguyệt, có thể vì thế đức Phật Như Lai với phật nhãn của người, người tin rằng Nữ Vương Phật Nguyệt cũng là một vị phật siêu đẳng, nên người truyền đức Quan Thế Âm Bồ Tát tới gặp Nữ Vương Phật Nguyệt rồi tùy cơ Bồ Tát định liệu mọi sự. Khi Quan Thế Âm Bồ Tát đối diện cùng Nữ Vương Phật Nguyệt, hai ngài đều đem tất cả các pháp thuật cao cường, siêu đẳng ra quyết tâm hàng phục người dám đối địch với mình. Cuộc đấu phép vô tiền khoáng hậu này diễn ra suốt ba ngày ba đêm mà vẫn bất phân thắng bại. Cuối cùng Bồ Tát đành phải ngừng tay thu hồi các pháp thuật của người, rồi cùng Nữ Vương Phật Nguyệt hòa giải, bàn thảo tới các phương pháp cứu độ cho loài người sống trong thanh bình, an vui. Trong thâm tâm Nữ Vương Phật Nguyệt cũng tự biết dùng chiến tranh, dẫu cho là chiến thắng, cũng tạo sự sát hại nhiều sinh linh vô tội bị cưỡng bức vào chiến tranh, cũng không thể là phương thức cứu độ loài người, nên bà đã bỏ việc chiến tranh rồi đi tu.
Nữ Vương Phật Nguyệt đi tu, nhưng con đường chính đạo của bà không giống với phương pháp tu của Quan Thế Âm Bồ Tát. Nữ Vương tu theo "Ðạo Vua Bà". Cũng từ đó cư dân các dân tộc gốc người Việt sống tại lưu vực hai bờ sông Dương Tử, nhiều nơi lập các đền, miếu thờ Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnh của Hai Bà. Nếu có những người lưu tâm nghiên cứu, tìm hiểu kỹ những tinh hoa, triết lý, tư tưởng của "Ðạo Vua Bà", lại biết cải tiến, nâng cao các giá trị thánh thiện, loại dần những thấp kém, dị đoan, mê tín do bọn vua quan phong kiến kém tài tạo nên, tất nhiên "Ðạo Vua Bà" sẽ trở thành một tôn giáo tín ngưỡng ích lợi cho nhân quần xã hội.
Chân lý về vũ trụ và nhân sinh của dân tộc Việt, như đã viết ở chương "Bánh dầy bánh chưng" đã có giá trị là sự thực chân lý bao trùm mọi thứ đạo của cõi thế và gắn bó quan thiết với đất đai sông núi, với cuộc sống loài người cùng muôn loài, cùng vũ trụ bao la. Có thể lấy bài ca "Duy Tân" của phong trào "Ðông Kinh nghĩa thục" vào đầu thế kỷ hai mươi là quan niệm, trên một bình diện nào, điển hình cho "cách tu" của người Việt:
Phen này cắt tóc đi tu,
Tụng kinh niệm Phật ở chùa Duy Tân.
Ðêm ngày khấn vái chuyên cần
Cầu cho ích nước lợi dân mới là.
Tu cho mở trí dân nhà,
Nước ta độc lập dân ta phú cường.
Lòng thành thắp một nén hương
Nam mô Phật Tổ Hồng Bàng chứng minh.
 
Góc chùa Tây Phương tại Hà Tây, ngoài các mái cong
đặc biệt các khuôn tròn cửa sổ biểu tượng triết lý
âm dương đối xứng, không ở nơi nào có
Từ khi xảy ra cuộc chiến giữa quân Hai Bà đánh quân giặc Hán tại hồ Ðộng Ðình, rồi tới khi Nữ Vương Phật Nguyệt bỏ đi tu, thời gian về sau đã hình thành nên "Ðạo Vua Bà". Bản "Sự tích Nữ Vương Phật Nguyệt" lược thuật trên đây được viết vào thế kỷ thứ tám. Từ thế kỷ thứ nhất tới thế kỷ thứ tám là thời gian dài thích hợp cùng khuynh hướng cả loài người phát triển nhiều tôn giáo còn trường tồn tới ngày nay. Cũng từ qui luật tổng thể chung, "Ðạo" của Nữ Vương Phật Nguyệt là truyền nối sự nghiệp, công đức Hai Bà Trưng, nhưng thời đại Hai Bà Trưng là kế nghiệp thời đại Hồ⮧ Bàng. Lịch sử Việt để lại nền móng xây dựng, mỗi viên gạch lại được trau chuốt, chọn lựa qua thời gian kết hợp thành tòa lâu đài kiến trúc lý tưởng.
Nghệ thuật kiến trúc "Sự tích Nữ Vương Phật Nguyệt" đạt mức hùng, bi, thiện mỹ ở chỗ: phá đổ và vùi lấp thuyết "thiên triều bịp bợm", nhưng lại dùng ngay nó bị khuất lấp để xây dựng "Ðạo Vua Bà" lên trên. Loài người có thể ước mơ tới tương lai nào đó, cả loài người chung sống trong hạnh phúc và tiến bộ. Liệu điều mơ ước ấy có phải là tôn chỉ cùng là cứu cánh của "Ðạo Vua Bà" hay không?
Lý tưởng khởi nghĩa của Hai Bà không thích hợp với quan niệm độc tôn:
Các sách "Xuân Thu" của Khổng Tử và "Tả thị Xuân Thu" của Tả Khâu Minh đều có những chỗ viết chung một ý:
"Trời sinh ra dân, đặt ra vua, ra thầy, đều để giúp Thượng Ðế". Hoặc: "Trời làm chủ thiên hạ, vua nối trời mà cai trị dân. Kẻ chịu mệnh trời mà cai trị dân là thiên tử".
Kinh Lễ trong thiên "Vương chế" đưa ra nguyên tắc bất bình đẳng giữa các nước khác so với Trung Hoa là:
"Ðông phương viết Di. Tây phương viết Nhung. Nam phương viết Man. Bắc phương viết Ðịch." (Dân ở phương Ðông gọi là giống Di. Dân ở phương Tây gọi là giống Nhung. Dân ở phương Nam gọi là giống Man. Dân ở phương Bắc gọi là giống Ðịch). Với quan niệm các câu nói này, người Trung Quốc xưa đều coi những người sống ở bốn phương không phải là dân Trung Quốc đều là các giống: mán, mọi, rợ, hồ, chưa đầy đủ các tiêu chí để được gọi là người! Còn xét theo chiết tự chữ nho, cả bốn chữ: Di, Nhung, Man, Ðịch đều thuộc trong các bộ chữ ám chỉ các giống: sâu, bọ, điểu, thú, mà thôi!
Sách Luận Ngữ ở thiên Quí thị có chỗ viết:
"Khổng Tử viết: Thiên hạ hữu đạo tắc lễ, nhạc, chinh, phạt, tự thiên tử xuất. Thiên hạ vô đạo, tắc lễ, nhạc, chinh, phạt, tự chư hầu xuất. Tự chư hầu xuất, cái thập thế hy bất thất hỹ! Tự đại phu xuất, ngũ thế hy bất thất hỹ! Bồi thần chấp quốc mệnh, tam thế hy bất thất hỹ! Thiên hạ hữu đạo tắc chính bất tại đại phu. Thiên hạ hữu đạo tắc thứ nhân bất nghị". Tạm dịch: "Khổng Tử nói: Thiên hạ có đạo thì lễ, nhạc, chinh, phạt đều do thiên tử mà ra. Thiên hạ không có đạo thì lễ, nhạc, chinh, phạt do các nước chư hầu mà ra. Từ các nước chư hầu mà ra, hẳn trong vòng mười đời nước bị mất. Từ quan đại phu mà ra, trong vòng năm đời nước bị mất. Các quan coi phụ việc nước mà lộng quyền, trong vòng ba đời nước bị mất. Thiên hạ có đạo việc chính trị không do quan đại phu. Thiên hạ có đạo người dân thường không được nghị bàn".
Thực tình chưa chắc những lời nói trên đã là của Khổng Tử, hay chỉ là lời của bọn hủ nho, quan lại nô bộc nền quân chủ chuyên chế phản quyền dân, quyền người đã tự nặn ra thứ tư tưởng trên, rồi gán cho là do Khổng Tử nói. Tuy nhiên cũng nên xét về giá trị những câu nói đó, vì nó đã đè nặng nhiều đau thương lên kiếp người Ðông Á. Thân phận con người sinh ra giữa cõi trời đất, nếu cứ như số đông các thánh nhân, triết gia, văn nhân ở Trung Hoa, châu đầu phục vụ cho ông thiên tử, khom lưng quì gối trước cái ngai vàng, thì trong bầu trời bao la minh bạch của cụ Lang Liêu người Việt đã xác định, xét ra những cái lý về thiên tử đã chẳng minh bạch chút nào. Bầu trời lại bị vẩn đục, vì ở đó lại cũng có một vị Ngọc Hoàng Thượng Ðế ngồi trên ngai vàng, có trăm quan văn võ, đầy đủ nghi vệ triều đình, giống như hệt những gì mà ông vua Tàu được thụ hưởng. Sự tưởng tượng ấy cũng chung qui chỉ để định đặt ra "luật trời", một thứ mô hình phiên bản, dành nhiều đặc quyền cho thiên tử ở dưới trần gian. Còn thân phận của muôn triệu dân đành cam chịu cảnh lầm than hèn mọn, do chế độ tạo ra biết bao tệ nạn tham quan, hà khắc, bất công, phi lý. Hỏi như thế còn đâu là quyền công dân? Còn đâu là quyền con người?
"Ðạo Vua Bà" được mọi người dân tín ngưỡng là do lòng dân ước mơ được sống trong xã hội loài người không còn cảnh bịp bợm phi nhân, phi nghĩa.
Ðiều bi thiết vô cùng thương tâm là chính đám người lương dân sống đáy cùng xã hội bị đày đọa bóc lột, lại là những người phải chịu tai họa nhiều nhất, khi chế độ phi nhân lung lay. Họ bị cưỡng bách ra ngoài mặt trận lao vào đất chết để phải đàn áp các phong trào khởi nghĩa, hay phải đi xâm chiếm các nước lân bang chỉ để củng cố vững vàng và thỏa mãn tham vọng của tên thiên tử cùng chế độ phi nhân nghĩa. Do đó dù Nữ Vương Phật Nguyệt thắng bọn Mã Viện, Lưu Long, lại rất đau lòng nhìn thấy xác chết quân giặc lấp đầy cả hồ Ðộng Ðình và sông Trường Giang, nên Nữ Vương Phật Nguyệt gác ra ngoài chuyện chiến tranh, chiến thắng. Người đi tu để tìm chân lý mới cho cuộc sống con người. Lịch sử để lại những hình thành của lịch sử, các thế hệ sau nên xây dựng, tô thắm lịch sử, phục hưng những gì đích thực lịch sử, không nên xuyên tạc, bôi nhọ, làm rối loạn, phức tạp sự thừa kế lịch sử nhằm thỏa mãn những tham vọng phi nhân, phi nghĩa. Vấn đề hệ trọng đặt ra đối với tuyệt đại đa số những người Hoa Nam vốn gốc là dân Việt và những người Việt sống trên đất Việt ngày nay, đều cần nhớ là dù là Việt hay Hoa cũng đều chung ruột thịt huyết thống, phải thương yêu nhau bằng tình ruột thịt huyết thống. Khái niệm quốc gia đa số thường gồm nhiều chủng tộc. Khi hai quốc gia chung biên giới lại có nhiều cư dân chung một chủng tộc sinh sống ở cả hai phía nơi phân cách biên cảnh, ý nghĩa cao đẹp nhất là nhân dân hai quốc gia Việt, Hoa phải loại bỏ mọi sự tranh chấp bất hòa, dù chỉ là sự mưu chiếm lấn một vài trăm cây số vuông đất biên cương hoặc tham lam nhận chủ quyền vô lý ở một vùng biển, vài hòn đảo hay gây xáo trộn bất ổn biên giới. Tốt nhất, giới cầm quyền hai nước nên chú tâm vào việc nâng cao dân sinh, dân trí và tình thương yêu lân bang để nơi ranh giới quốc gia cũng là nơi kết nối tình huyết thống ruột thịt.
Nhận định cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng cùng truyền thuyết Nữ Vương Phật Nguyệt tức vị nữ Chúa hồ Ðộng Ðình cộng với tín ngưỡng Ðạo Vua Bà trải qua lịch sử kéo dài cho tới ngày nay, khiến mỗi công dân người Việt không thể không liên tưởng nghĩ: - Ðã có biết bao nhiêu cuộc vận động, bao nhiêu cuộc khởi nghĩa và kháng chiến hào hùng đồng loạt diễn ra dưới thời đại Hai Bà Trưng và truyền lại ý chí bất khuất mãi mãi cho hậu thế ra sao? Những cuộc khởi nghĩa tranh hùng ấy đã bị lịch sử ngoại xâm xuyên tạc, đã bị bụi thời gian che khuất mất bao hào quang?
 
(Chương 13. Nữ Vương Phật Nguyệt cũng như ở chương 5. Ðất Nước Tổ Hùng, tác giả khi viết có trích dẫn, tham khảo bài diễn văn của Giám đốc Trung Quốc Sự Vụ thuộc Viện Pháp Á (Institut Franco Asiatique) đọc vào dịp khai giảng niên khóa học 1991 - 1992 của Viện Pháp Á, nguyên văn tiếng Pháp, do Tăng Hồng Minh dịch sang Việt ngữ).
 
Vương Đàm

Cảm Ơn Người...

Cảm Ơn Người
Đã Cho Ta Niềm Đau
 
Như nhát dao cắm ngọt vào lòng
Em đến rồi đi bất ngờ quá đỗi
Em nhá thiên đường anh chưa kịp tới
Đã nghe tình địa ngục đắng mênh mông…
 
Sao em gieo chi tội quá, nỗi buồn
Cứ dè tim anh mà ở lại?
Là hạt bụi giữa ba ngàn thế giới
Anh còn gì trong cõi yêu thương?
 
Như bão giông lấp liếm con đường
Anh hóa thành con tàu mất hướng
Giữa ngả 3 tròng trành, vất vưởng
Biết nơi đâu là chốn yên bình?
 
Sao em gieo chi nỗi nhớ vào anh
Để rồi đi biệt-mù-cà-cưỡng?
Tháng rộng năm dài một mình anh hóa tượng
Dị tượng sầu em có biết không em?
 
Cảm ơn em.Rất cảm ơn em
Đã cho anh niềm đau suốt kiếp
Thơ theo người cũng ngở ngàng, anh biết
Vết thương này thành lệ đá triền miên…
 
Trần Dzạ Lữ

More Articles...

Page 1 of 13

Start
Prev
1
Ulti Clocks content
Search - Content
Search - Weblinks
Search - Contacts
Search - Categories
Search - Sections
Search - Newsfeeds
Search - JComments

Tác Giả

Tìm bài theo ngày

< May 2013 >
Mo Tu We Th Fr Sa Su
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 25 26
27 28 29 30 31    

Time Zone Clock

Who's Online

We have 86 guests online

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013

Tìm bất kỳ bài viết nào theo vần A B C